BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ - Phần thứ tư: XÉT LẠI BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH CHƯA CÓ








	
| Đăng nhập | Giới thiệu | Hướng dẫn sử dụng |
Pháp điển Luật Việt nam "BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1988"      
Vietlawconsultants
           .
.           

CHƯƠNG 22: TÍNH CHẤT CỦA PHÚC THẨM VÀ QUYỀN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ
Điều 204. Tính chất của phúc thẩm.
Điều 205. Những người có quyền kháng cáo.
Điều 206. Kháng nghị của Viện kiểm sát.
Điều 207. Thủ tục kháng cáo và kháng nghị.
Điều 208. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Điều 209. Kháng cáo quá hạn.
Điều 210. Thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị.
Điều 211. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị.
Điều 212. Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị.
Điều 213. Kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.
CHƯƠNG 23: XÉT XỬ PHÚC THẨM
Điều 214. Phạm vi xét xử phúc thẩm.
Điều 215. Thời hạn xét xử phúc thẩm.
Điều 216. Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Điều 217. Những người tham gia phiên toà phúc thẩm.
Điều 218. Bổ sung, xem xét chứng cứ tại Toà án cấp phúc thẩm.
Điều 219. Thủ tục phiên toà phúc thẩm.
Điều 220. Bản án phúc thẩm.
Điều 221. Sửa bản án sơ thẩm.
Điều 222. Huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại.
Điều 223. Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Điều 224. Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự.
Điều 225. Phúc thẩm những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.

Tìm trong văn bản
| Mục lục | Trước sửa đổi | Sau sửa đổi | Chỉ mục |    

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1988
Phần thứ tư: XÉT LẠI BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH CHƯA CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM

Ngày ký:28-06-1988
Áp dụng từ:01-01-1989
Sửa đổi 3 lần bởi:
  • Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự (Áp dụng từ 07-07-1990)
  • Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự (Áp dụng từ 02-01-1993)
  • Luật 20/2000/QH10 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự (Áp dụng từ 01-07-2000)
  • Được thay bằng:BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003


    Nội dung
    (Trước sửa đổi)

    CHƯƠNG 22: TÍNH CHẤT CỦA PHÚC THẨM VÀ QUYỀN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ

    Điều 204. Tính chất của phúc thẩm.

    Phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

    Điều 205. Những người có quyền kháng cáo.

    Bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

    Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

    Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

    Người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

    Người được Toà án tuyên là vô tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ vô tội. (1sd)

    Điều 206. Kháng nghị của Viện kiểm sát.

    Viện kiển sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

    Điều 207. Thủ tục kháng cáo và kháng nghị.

    1- Người kháng cáo phải gửi đơn đến Toà án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo.

    Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Toà án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo. Toà án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó.

    2- Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản, có nói rõ lý do. Kháng nghị được gửi đến Toà án đã xử sơ thẩm.

    Điều 208. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    1- Thời hạn kháng cáo, kháng nghị là mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Trong trường hợp Toà án xử vắng mặt thì thời hạn đó tính từ ngày bản sao bản án được giao cho đương sự hoặc từ ngày niêm yết.

    2- Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thị trại giam, thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày Ban giám thị trại giam nhận được đơn. (1sd)

    Điều 209. Kháng cáo quá hạn.

    1- Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng.

    2- Toà án cấp phúc thẩm xét lý do kháng cáo quá hạn và ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn.

    Điều 210. Thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị.

    1- Việc kháng cáo, kháng nghị phải được Toà án cấp sơ thẩm thông báo cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng biết.

    2- Người được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi ý kiến của mình cho Toà án cấp phúc thẩm.

    Điều 211. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị.

    1- Những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 226 Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành.

    2- Toà án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị cho Toà án cấp phúc thẩm trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Điều 212. Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị.

    1- Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị.

    2- Trong trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị tại phiên toà thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ.

    Điều 213. Kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.

    1- Viện kiểm sát kháng nghị các quyết định của Toà án cấp sơ thẩm cùng cấp trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định.

    2- Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Toà án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

    CHƯƠNG 23: XÉT XỬ PHÚC THẨM

    Điều 214. Phạm vi xét xử phúc thẩm.

    Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án.

    Điều 215. Thời hạn xét xử phúc thẩm.

    Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu phải xét xử phúc thẩm trong thời hạn không quá ba mươi ngày; Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cáo và Toà án quân sự cấp cao phải xét xử phúc thẩm trong thời hạn không quá sáu mươi ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. (1sd)

    Điều 216. Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm.

    Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai hội thẩm nhân dân.

    Điều 217. Những người tham gia phiên toà phúc thẩm.

    1- Tại phiên toà phúc thẩm, sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp là bắt buộc; nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên toà.

    2- Người bào chữa, người kháng cáo, người có quyền và lợi ích hợp pháp có liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị phải được tham gia phiên toà; nếu họ vắng mặt mà có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà.

    3- Sự tham gia phiên toà của những người khác do Toà án cấp phúc thẩm quyết định, nếu xét thấy sự có mặt của họ là cần thiết. (1sd)

    Điều 218. Bổ sung, xem xét chứng cứ tại Toà án cấp phúc thẩm.

    1- Trước khi xét xử hoặc trong khi xét hỏi tại phiên toà, Viện kiểm sát có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của Toà án bổ sung những chứng cứ mới; người đã kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị cũng có quyền bổ sung chứng cứ mới.

    2- Chứng cứ cũ và chứng cứ mới đều phải được xem xét tại phiên toà. Bản án của Toà án cấp phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới.

    Điều 219. Thủ tục phiên toà phúc thẩm.

    Phiên toà phúc thẩm cũng tiến hành như phiên toà sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị.

    Điều 220. Bản án phúc thẩm.

    Toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định:

    1- Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

    2- Sửa bản án sơ thẩm;

    3- Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;

    4- Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

    Điều 221. Sửa bản án sơ thẩm.

    1- Toà án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:

    a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt cho bị cáo;

    b) Áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;

    c) Giảm hình phạt cho bị cáo;

    d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng.

    2- Nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.

    3- Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Toà án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ, Toà án vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn và giảm mức bồi thường thiệt hại.

    Điều 222. Huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại.

    1- Toà án cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm để tiến hành lại tố tụng từ giai đoạn điều tra khi nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

    Nếu thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng thì Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới.

    2- Khi huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, Toà án cấp phúc thẩm cần ghi rõ lý do của việc huỷ án sơ thẩm.

    3- Khi huỷ án sơ thẩm để xét xử lại, Toà án cấp phúc thẩm không quyết định trước những chứng cứ mà Toà án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải bác bỏ, cũng như không quyết định trước về điều khoản Bộ luật hình sự và hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm sẽ phải áp dụng. (1sd)

    Điều 223. Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

    Khi có một trong những căn cứ quy định tại điểm 1 và điểm 2 Điều 89 Bộ luật này thì Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án; nếu có một trong những căn cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều 89 Bộ luật này thì huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

    Điều 224. Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự.

    Sau khi Toà án cấp phúc thẩm huỷ án mà vụ án phải điều tra lại hoặc xét xử lại thì cơ quan điều tra tiến hành điều tra lại và Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án theo thủ tục chung.

    Điều 225. Phúc thẩm những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.

    1- Đối với những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng nghị hoặc kháng cáo, Toà án cấp phúc thẩm không phải mở phiên toà, nhưng nếu xét cần thì có thể triệu tập những người tham gia tố tụng cần thiết để nghe ý kiến của họ trước khi Toà án ra quyết định.

    2- Toà án cấp phúc thẩm phải ra quyết định giải quyết việc kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của vụ án.

    3- Khi xét những quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm có những quyền hạn quy định tại Điều 220 Bộ luật này.




    Copyright © 2007-2021 Luật sư, Tiến sĩ NGUYỄN Hải Hà
    Website: www.vietlaw.biz - Email: info@vietlaw.biz
    Designed and Adminstrated by Sea-lion.biz