Điều 120. - BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 -- Phần 2 KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ QUYẾT ĐỊNH VIỆC TRUY TỐ









Chi tiết Điều 120. BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 Hết hiệu lực

Điều 120. Thời hạn tạm giam để điều tra

1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

3. Thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát được quy định như sau:

a) Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Trong trường hợp gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a khoản này đã hết mà vẫn chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm nghiêm trọng. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

4. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp trung ương thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

5. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ hai quy định tại điểm b khoản 3 Điều này đã hết và vụ án có nhiều tình tiết rất phức tạp mà không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn tạm giam lần thứ ba.

Trong trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nữa không quá bốn tháng.

6. Trong khi tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.


Văn bản hướng dẫn
    
...

Điểm 18. Cách tính thời hạn tố tụng trong trường hợp bị can phạm vào tội nặng hơn, điều tra bổ sung về một tội phạm khác.

18.1. Trường hợp đang điều tra vụ án xác định được bị can phạm vào tội nặng hơn nhưng trong cùng một điều luật với tội đang điều tra, kể cả trường hợp thay đổi tội danh sang tội nặng hơn ở điều luật khác, thì thời hạn điều tra của vụ án được tính theo tội nặng hơn nhưng phải trừ thời hạn đã điều tra trước đó, bảo đảm đúng thời hạn điều tra đối với từng tội phạm theo quy định tại Điều 119 của BLTTHS. Thời hạn tạm giam đối với bị can cũng được tính theo tội nặng hơn, nhưng phải trừ thời hạn đã tạm giam bị can, bảo đảm đúng thời hạn tạm giam đối với từng tội phạm quy định tại Điều 120 của BLTTHS.

Ví dụ 1: đang điều tra vụ án trộm cắp thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự thì xác định hành vi trộm cắp của bị can thuộc loại tội nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự; do đó, thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam bị can trong vụ án trộm cắp này được tính theo tội phạm nghiêm trọng và phải trừ thời gian đã điều tra, đã tạm giam trước đó.

Ví dụ 2: đang điều tra vụ án về tội cố ý gây thương tích theo Điều 105 của Bộ luật hình sự thì thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can sang tội giết người theo Điều 93 của Bộ luật hình sự; do đó, thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam bị can được tính theo tội giết người và phải trừ thời gian đã điều tra, đã tạm giam bị can về tội cố ý gây thương tích trước đó.

18.2. Trường hợp đang điều tra vụ án mà lại khởi tố điều tra bổ sung về một tội phạm khác thì việc điều tra đối với các hành vi phạm tội trong vụ án được thực hiện đồng thời và thời hạn điều tra được tính tiếp kể từ khi ra quyết định khởi tố đối với hành vi phạm tội sau cho đến khi kết thúc điều tra đối với tất cả các hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 119 của BLTTHS.

Thời hạn tạm giam bị can trong trường hợp này được áp dụng theo từng tội phạm. Nếu hết thời hạn tạm giam bị can (kể cả đã gia hạn) hoặc bị can không bị tạm giam về tội phạm khởi tố trước mà xét cần tạm giam để điều tra về tội phạm được khởi tố sau thì ra lệnh tạm giam bị can về tội phạm đó theo quy định tại Điều 120 của BLTTHS.

Ví dụ: đang điều tra vụ án trộm cắp thuộc loại tội ít nghiêm trọng được hai tháng, sau đó khởi tố bổ sung để điều tra bị can này về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng thuộc loại tội ít nghiêm trọng thì thời hạn điều tra chung của vụ án được tính tiếp, kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án về tội lừa đảo đó. Nếu bị can chưa bị tạm giam hoặc hết thời hạn tạm giam về tội trộm cắp (kể cả đã gia hạn) mà xét cần tiếp tục tạm giam thì ra lệnh tạm giam bị can về tội lừa đảo.

...

Điều khoản được phát triển từ:
BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1988

Điều 71. Thời hạn tạm giam.

1- Thời hạn tạm giam để điều tra không được quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng; không được quá bốn tháng đối với tội nghiêm trọng.

2- Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở lên và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu trở lên có quyền gia hạn tạm giam, nhưng không được quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không được quá bốn tháng đối với tội nghiêm trọng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có thể gia hạn thêm đối với tội nghiêm trọng, nhưng không được quá bốn tháng.

Trong trường hợp cần thiết, đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm.

3- Trong khi tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.


Nghiên cứu sâu


Copyright © 2007-2022 NGUYEN Hai Ha
Website: www.vietlaw.biz
Email: info@vietlaw.biz

Đóng